Những điều cần biết về bệnh thấp tim gây hẹp hở van tim

Thấp tim là một trong những bệnh lý khá phổ biến ở Việt Nam ta. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 5- 15 tuổi- lứa tuổi rất trẻ cho nên việc phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu các biến chứng của bệnh. Dưới đây là bài Những điều cần biết về bệnh thấp tim gây hẹp hở van tim .

1. Dấu hiệu nhận biết bệnh thấp tim

Thấp tim là bệnh lý viêm tự miễn, xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường họng miệng. Vi khuẩn gây bệnh là liên cầu tan huyết nhóm A. Trong vòng 2 đến 3 tuần sau khi bị viêm đường hô hấp trên do liên cầu, nếu không được điều trị tốt, bệnh có thể tiến triển thành thấp tim.

Sau khi nhiễm liên cầu khuẩn, trẻ có thể khởi phát với triệu chứng viêm họng. Trẻ sốt cao hoặc sốt vừa, nuốt đau, ho, hạch dưới hàm sưng đau. Viêm họng có thể nặng kèm theo sưng amidan hoặc viêm nhẹ, thoáng qua. Các dấu hiệu này thường rất dễ bị bỏ qua hoặc chỉ chữa qua loa cũng thuyên giảm. Sau đó khoảng 5 – 15 ngày, các dấu hiệu của thấp tim sẽ bắt đầu xuất hiện.

benh-thap-tim-1

Các biểu hiện của thấp tim có thể tiến triển khá âm thầm. Những triệu chứng chính bao gồm:

– Viêm đa khớp

Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim, xảy ra ở khoảng 80% các trường hợp. Vị trí viêm thường xuất hiện ở các khớp lớn như khớp gối, khớp cổ chân, khớp cổ tay, khuỷu, vai…, với biểu hiện là “sưng, nóng, đỏ và đau khớp”.

Viêm có tính chất di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Mỗi khớp thường chỉ sưng đau trong khoảng 3-5 ngày hoặc 1-2 tuần rồi tự khỏi, dù có điều trị hay không.

Viêm khớp trong thấp tim thường không để lại di chứng nào như teo cơ, dị dạng khớp, cứng khớp,…

– Viêm tim

Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41-83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Biểu hiện bằng viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim, viêm cơ tim hoặc viêm tim toàn bộ.

Nếu viêm tim nhẹ: người bệnh cảm thấy hồi hộp, tim đập nhanh, nhịp thở nhanh và đau ngực.

Viêm tim nặng: khó thở, phù mặt và hai chân, điện tim to, nhịp tim nhanh, có thể có rối loạn dẫn truyền, có các tiếng thổi, gan to và đau.

– Nốt dưới da (Hạt Meynet, hạt thấp dưới da):
Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân thấp tim. Đây là những nốt có đường kính khoảng từ 0,5 – 2 cm, cứng, di động và không đau, xuất hiện ở ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp, thường tự biến mất sau khoảng vài ngày.

– Hồng ban vòng (Ban vòng Besniser):

Đây là một loại ban trên da có màu hồng và khoảng tái ở giữa, tạo thành ban vòng; thường xuất hiện ở bụng, thân mình, đùi, mặt trong của cánh tay và không bao giờ ở mặt.

Hồng ban vòng là một dấu hiệu ít gặp nhưng khá đặc hiệu trong thấp tim, thấy ở khoảng 5% các trường hợp. Ban xuất hiện nhanh và mất đi nhanh sau vài ngày không để lại dấu vết.

– Múa giật Sydenham:

Múa giật Sydenham gặp ở khoảng 30% bệnh nhân, là một trong những triệu chứng muộn của thấp tim, thường xuất hiện sau khoảng 3 tháng sau khi viêm đường hô hấp trên và mất đi sau 2-3 tháng.

Nguyên nhân là do tổn thương thấp ở hệ thần kinh trung ương, gây rối loạn vận động quá mức. Ban đầu, các biểu hiện có thể là khó viết, khó nói hoặc khó đi lại, xuất hiện các động tác dị thường, vô thức ở một chi hay nửa người.

Sau đó, những động tác múa giật tăng lên, nhận thấy rõ khi vận động, gắng sức hay xúc động, và thường giảm hoặc mất đi khi ngủ, nghỉ.

– Một số dấu hiệu phụ:

Ngoài các biểu hiện trên, thấp tim còn có một số dấu hiệu phụ khác, bao gồm:

+ Sốt: thường gặp trong giai đoạn cấp.
+ Đau khớp: chỉ đau khớp chứ không có viêm (sưng, nóng, đỏ).
+ Một số biểu hiện khác như đau bụng, viêm phổi cấp do thấp tim, viêm cầu thận cấp, đái máu, hoặc viêm màng não…

Những dấu hiệu này không nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thấp tim.

2. Tiến triển và biến chứng của thấp tim

Đợt thấp cấp thường kéo dài khoảng 2 – 3 tuần. Trong giai đoạn cấp, thấp tim có thể gây rối loạn nhịp tim, viêm cơ tim cấp,… kèm theo các triệu chứng khác ở da, khớp, thần kinh; nặng hơn có thể gây tử vong.

Nhìn chung, khoảng 75% trường hợp thấp tim cấp tiến triển tốt sau 6 tuần điều trị. Nhưng sau đó, bệnh nhân hay mắc các đợt tái phát, đặc biệt trong vòng 2 năm đầu tiên. Sau 5 năm khả năng tái phát thấp.

Sau mỗi lần tái phát, các thương tổn ở van tim lại nặng lên (các lá van bị dày lên, xơ cứng và vôi hoá; mép van có thể bị dày, dính) dẫn tới bệnh van tim do thấp, thường là hẹp, hở van hai lá, hở van động mạch chủ…

3. Điều trị bệnh thấp tim

Để điều trị thấp tim, trước tiên cần phải loại bỏ ngay sự có mặt liên cầu bằng kháng sinh trong 10 ngày.

benh-thap-tim-2

Bên cạnh đó, cần sử dụng thêm các thuốc chống viêm, thuốc điều trị suy tim, thuốc điều trị triệu chứng múa giật nếu có.

Trong giai đoạn cấp, người bệnh thấp tim cần nghỉ ngơi tuyệt đối, cho đến khi mạch và tốc độ máu lắng trở về bình thường. Ăn nhẹ, giữ ấm, theo dõi chặt chẽ tim, mạch, nhiệt độ, cân nặng, hàng tuần xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng và ghi điện tim. Ngừng các vận động thể dục thể thao gắng sức trong vòng 6 tháng.

4. Phòng bệnh thấp tim như thế nào?

Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thấp tim là do nhiễm liên cầu khuẩn điều trị không dứt điểm. Ngoài ra, còn có những yếu tố thuận lợi khác là cơ địa và giữ gìn vệ sinh không tốt.

Vì vậy, để phòng ngừa, cần giáo dục cho trẻ giữ gìn vệ sinh và không để nhiễm lạnh. Hàng ngày, cần vệ sinh răng, miệng, tai, mũi, họng, tránh để mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên. Khi có các dấu hiệu viêm họng, viêm mũi, viêm tai, viêm amiđan, viêm xoang… nên đưa trẻ đi khám để phát hiện và giải quyết sớm các ổ nhiễm khuẩn.

– Phòng thấp cấp I: Nếu phát hiện trẻ bị viêm đường hô hấp do liên cầu khuẩn nhóm A, cần tích cực điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Tùy thuộc cơ địa và điều kiện kinh tế của bệnh nhân mà lựa chọn thuốc phù hợp: thuốc mang lại hiệu quả và giá rẻ, hoặc thuốc thay thế trong trường hợp người bệnh dị ứng… Việc điều trị kịp thời và hợp lý giúp ngăn ngừa liên cầu khuẩn xâm nhập tim gây thấp tim.

– Phòng thấp cấp II: Nếu đã bị thấp tim, người bệnh cần tuân thủ triệt để theo chương trình “phòng thấp cấp 2” do bác sĩ chỉ định. Thời gian điều trị dự phòng phụ thuộc vào lứa tuổi và tình trạng bệnh của mỗi người, thường ít nhất là 5 năm sau đợt điều trị tấn công. Nếu thấp tim không có viêm tim và không có di chứng van tim thì thời gian dự phòng tối thiểu là 5 năm và tốt nhất đến năm 18 tuổi. Còn với thể tổn thương nặng, đã có di chứng van tim thì nên phòng thấp suốt đời (khuyến cáo ít nhất đến năm 45 tuổi).

Trên đây là bài viết Những điều cần biết về bệnh thấp tim gây hẹp hở van tim , hy vọng bài viết này cung cấp đủ thông tin đến cho bạn. Chúc bạn luôn khỏe mạnh!

Theo Sức khỏe & Đời sống

Google+Facebook