Những điều cần biết về bệnh bạch cầu

Bạch cầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn bạch cầu gây nên thường lây lan qua đường hô hấp. Biểu hiện của bệnh là quá trình của bệnh là viêm mạc với màng giả kèm theo biểu hiện nhiễm độc nặng, tổn thương hệ thần kinh và tim mạch. Dưới đây là Những điều cần biết về bệnh bạch cầu

1. Lịch sử nghiên cứu

 Hình ảnh lâm sàng bệnh bạch hầu được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ nhất (A.Kapdokiski). Nhiều thông báo, nghiên cứu được thực hiện vào thế kỷ XVII và XVIII. Năm 1826 Bretonneau chứng minh bạch hầu là một bệnh. A Tronsseau qua nghiên cứu vụ dịch xảy ra năm 1846 tại Pari đã đặt tên bệnh là Diphtheria.

Klebs phát hiện ra căn nguyên gây bệnh là trực khuẩn vào năm 1833, F.loeffler phân lập được chủng trực khuẩn bạch hầu tinh khiết năm 1884. Năm 1888 xác định được độc tố của trực khuẩn bạch hầu.

benh-ung-thu-bach-cau-co-chua-duoc-khong

2. Mầm bệnh

Là Corynebacterium  Diphtheriae ( còn có tên là trực khuẩn Klebs-Loeffler ), là trực khuẩn hình que, không vỏ, không sinh nha bào hai đầu tròn, ái khí không di động bắt màu gram (+). Kích thước 2-6 x 0,5-1mm. Quan sát dưới kính hiển vi chúng thường xếp với nhau thành hình thể V, L, Y. Trong môi trường nuôi cấy, khuẩn lạc có màu xám đến đen.

Có 3 týp sinh học là Gravis intermedins và Mitis. Các týp này có chung kháng nguyên là Polyosit, các vi khuẩn giả bạch hầu không có kháng nguyên này.

Diphtheriae có sức đề kháng cao ở ngoài môi trường, ở nhiệt độ phòng, trong màng giả đã khô hoặc dính vào quần áo, đồ dùng… Có thể sống được khá lâu. Trong điều kiện khí hậu khô hanh lạnh vi khuẩn chịu đựng khá hơn trong sữa sống được 20 ngày. Chết ở 500C trong 6 phút, 650C trong 2 phút. Dưới ánh sáng tự nhiên sống được vài ngày. Trong môi trường đủ oxy, giàu huyết tương, nhiệt độ 36-37 phát triển rất nhanh, sau 10-12 giờ đã tạo thành khuẩn lạc.

C. Diphtheriae sinh ngoại độc tố, dễ bị bắt hoạt với nhiệt độ ánh sáng. Đặc tính này của ngoại độc tố bạch hầu được sử dụng làm kháng độc tố. Độc tố bạch hầu là yếu tố gây bệnh chủ yếu, lượng độc tố có liên quan đến các týp sinh học.

3. Nguồn bệnh

Người (bệnh nhân và người mang khuẩn) là nguồn bệnh duy nhất. Bệnh nhân là nguồn lây từ cuối thời kỳ nung bệnh cho đến khi khỏi bệnh được 2-3 tuần có khi hàng tháng, có trường hợp đến 64 tuần. Người mang khuẩn không triệu chứng(tỷ lệ 10-50 % trong vụ dịch) và người mang khuẩn sau khi bị bệnh là nguồn lây bệnh rất nguy hiểm do khó kiểm soát.

4. Đường lây

Đường lây chủ yếu : Qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp (ho, hắt hơi, nói chuyện…) trực khuẩn bạch hầu có trong dịch tiết từ mũi họng của bệnh nhân.

Lây gián tiếp : Qua đồ dùng, quần áo, thức ăn, nhất là sữa tươi nhiễm mầm bệnh .

Cơ thể cảm thụ

Lứa tuổi dễ mắc bệnh là trẻ em dưới 15 tuổi chỉ số nhiễm bệnh khoảng 15-20 % ở trẻ chưa có miễn dịch. Trẻ sơ sinh không mắc bệnh do có kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang.

Sau khi mắc bệnh có miễn dịch bền vững. Tuy nhiên tỷ lệ tái phát là 2-5%. Nhiễm khuẩn thể ẩn cũng có miễn dịch như khi bị bệnh.

Miễn dịch thu được sau khi tiêm giải độc tố thường kéo dài nhưng giảm dần vì vậy nếu không tiêm nhắc lại thì vẫn có thể bị bệnh

Phát hiện khả năng miễn với trực khuẩn bạch hầu bằng phản ứng Schick là phản ứng trung hoà, tiêm trong da 0,1 ml độc tố bạch hầu nguyên chất (tương đương 1/50 MLD) hoà trong Albumin. Nếu cơ thể không có kháng thể kháng độc tố bạch hầu sẽ xuất hiện phản ứng viêm tại chỗ. Nếu cơ thể có kháng thể kháng độc tố bạch hầu, không xuất hiện phản ứng viêm (phản ứng âm tính), phản ứng Schick thường chỉ được áp dụng trong điều tra dịch tễ bệnh bạch hầu

Trên đây là bài viết giúp bạn có thể hiểu rõ hơn về Những điều cần biết về bệnh bạch cầu để từ đó có thể phát hiện ra bệnh sớm hơn và có cách điều trị kịp thời.

Chúc bạn luôn có một sức khỏe tốt!

Theo dieutri

Xem thêm:    Những biến chứng và cách phòng bệnh dại

Google+Facebook