Nguyên nhân- triệu chứng và các thể loại hình của bệnh chàm

Bệnh chàm là một bệnh da phổ biến, có trên khắp thế giới và là bệnh thường thấy nhất. Các bệnh da xếp vào nhóm bệnh “chàm” tại hầu hết các quốc gia được dùng để chỉ một phạm trù riêng biệt lớn nhất trong các chẩn đoán da học. Các từ “viêm da” và “chàm” nói chung được dùng như đồng nghĩa. Tuy nhiên, trong khi mọi dạng chàm đều là viêm da, nhưng không phải viêm da đều là chàm, chàm là một bệnh da không lây truyền, ngứa, viêm. Nó có thể là cấp, bán hay mạn tính.

Vì vậy, một điều cần chú ý là đứng trước một bệnh chàm cần phải phân tích rõ ràng thuộc về thể nào, khu trú vào đâu, điều tra về tiền sử, làm những thử nghiệm (test), tìm các tác nhân vật lý, hóa học, vi khuẩn… để đi đến một chẩn đoán chính xác, quyết định rõ ràng chàm thuộc thể bệnh nào, tiến triển như thế nào, yếu tố tác nhân nào gây ra là chính.

bệnh chàm

bệnh chàm

I. NGUYÊN NHÂN BỆNH CHÀM

Bệnh chàm phát sinh do hai yếu tố: cơ địa và dị ứng nguyên.

1. Cơ địa:

Có thể có tính chất gia đình, di truyền, tiền sử trong gia đình bệnh nhân có thể có người bị chàm, hen suyển. Có nhiều công trình mới đã chứng tỏ cơ địa là những biến đổi sinh vật, chuyển hóa các chất do rối loạn chức năng nội tạng, nội tiết, thần kinh (về cận lâm sàng sẽ thấy CTM : tăng bạch cầu ái toan và đơn nhân).

Các tác nhân kích thích bên trong, kèm theo có thể bị viêm xoang, xơ gan, viêm đại tràng, viêm tai xương chũm, các bệnh về thận…

Có thuyết cho rằng do rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn chức năng thận, tiêu hóa nhưng chưa được chứng minh.

2. Dị ứng nguyên:

– Các thuốc hay gây phản ứng: lưu huỳnh, thủy ngân, thuốc tê, sunfamid, chlorocit, penicillin, streptomycin.

– Hóa chất gây bệnh do nghề nghiệp: xi măng, thuốc nhuộm, nguyên liệu làm cao su, – sơn xe, dầu mỡ, than đá, phân hóa học, thuốc sâu, acit, kiềm,…

– Các sản phẩm vi sinh có cơ chế dị ứng: vi khuẩn, nấm, siêu vi.

– Yếu tố vật lý: ánh sáng, độ ẩm, sự cọ sát, gãi và các tổn thương khác.

– Quần áo, đồ dùng, giày dép cao su, nylon, khăn len, bút máy, phấn sáp, kem bôi   mặt, thuốc nhuộm tóc.

– Một số cây: sơn, cúc tần, rau đay, tía tô dại, cỏ hoang.

– Thức ăn: đặc biệt là các loài tôm, cua, nhộng.

Phân tích căn nguyên đi kèm với việc phát sinh ra bệnh chàm thì thấy ngoài một số yếu tố ngoại lai ra, nhiều bệnh nhân có tình trạng cấp tính hay mạn tính, xúc cảm mạnh, chấn thương tinh thần, mâu thuẫn trong gia đình hay trong xã hội gây ra những điều kiện thuận tiện dễ sinh ra bệnh chàm.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH CHÀM

1. Thương tổn cơ bản: 

Là mụn nước tập trung thành từng đám trên nền da đỏ. Bệnh thường tiến triển theo 5 giai đoạn, phản ánh tình hình biến chuyển của mụn nước, mỗi đợt có thể kéo dài từ một vài ngày đến một vài tuần.

  •  Giai đoạn tấy đỏ: bắt đầu ngứa hay là cảm giác nóng rồi trở thành đỏ phù và nóng. Có thể phù ở những vùng da lỏng lẻo như mi mắt, bao quy đầu. Trên bề mặt xuất hiện những hạt nhỏ màu trắng mà sau nầy sẽ tạo thành mụn nước.
  • Giai đoạn nổi mụn nước: các mụn nước điển hình của bệnh chàm thường phát sớm trên nền da đỏ, có khi tràn ra vùng da lành. Kích thước nhỏ như đầu đinh ghim, đôi khi to bằng bọng nước. Mụn nước nhỏ rất nông, chứa dịch trong, sắp xếp thành mảng chi chít, dày đặc. Trên một mảng chàm, do có nhiều đợt liên tiếp, mụn nước ở nhiều giai đoạn khác nhau.
Hình minh họa

Hình minh họa

  •  Giai đoạn chảy nước: mụn nước có thể vỡ đi do bệnh nhân gãi hoặc vỡ dập tự nhiên, nước vàng chảy ra, khi thì từng giọt, khi thì dính vào quần áo. Đến giai đoạn này, mảng chàm lổ chổ nhiều vết trợt hình tròn còn gọi là giếng chàm (giai đoạn này dễ bị bội nhiễm). Huyết thanh thấm ra ngoài, nếu lấy một vật gì đậy lại thì sau một thời gian huyết thanh sẽ tạo thành một mảng dày.
  • Giai đoạn da nhẵn: sau một thời gian thì sự xuất tiết giảm, khi chảy nước vàng, huyết thanh đọng lại trên mặt da, làm thành những vảy tiết dày. Sau một thời gian vảy tiết khô đọng rồi bong ra để lộ lớp da nhẵn bóng mỏng như vỏ hành. Giai đoạn này ngắn.
  •  Giai đoạn bong vảy da: lớp da vừa tái tạo, tự rạn nứt bong vảy thành mảng dày hoặc vụn như cám, hoặc da dày lên, tăng sắc tố, có kẻ ô gọi là liken hóa. Sau một thời gian khá lâu nếu không có mụn nước tái phát, da sẽ trở lại bình thường không có sẹo, bởi vì tổn thương ở lớp thượng bì.

2. Triệu chứng ngứa:

Rất trung thành với bệnh, nghĩa là xuất hiện ngay từ thời kỳ đỏ da cho đến cuối giai đoạn. Cường độ rất dữ dội, có thể làm rối loạn giấc ngủ của bệnh nhân. Khi gãi làm vỡ các dưỡng bào sẽ phóng thích ra các histamin gây ngứa thêm.

III. CÁC HÌNH THỂ LÂM SÀNG BỆNH CHÀM

1. Theo tính chất của thương tổn :

Chàm đỏ: Da đỏ sẫm, gần giống như là xuất huyết, hay ăn vào cẳng chân, chẩn đoán được vì có một vài mụn nước nhỏ kín đáo, chảy nước vàng.

Chàm dạng bọng nước: khi thương tổn chứa dịch lớn hơn 1mm gọi là bọng nước, mụn nước sẽ to và sâu hơn khi khu trú ở vùng da dày như lòng bàn tay, chân.

Chàm có sẩn: các sẩn nền nổi cao trông như sẩn huyết thanh tập trung thành từng đám.

2. Theo tiến triển của bệnh:

  • Chàm cấp: nền da đỏ, phù và chảy nước nhiều.
  • Chàm bán cấp: da còn đỏ,? ít phù nề, hết chảy nước.
  • Chàm mạn: bệnh chàm cấp tính dai dẳng, không khỏi thì trở thành bệnh chàm mạn tính, biểu hiện da đỏ có vảy ngứa, thỉnh thoảng lại chảy nước, nếu tồn tại lâu và do gãi nhiều thì da sẽ dày lên, nếp da sâu xuống tức là liken hóa.
  • Chàm bội nhiễm: do nhiễm tạp khuẩn, bên cạnh các mụn nước có các mụn mủ, loét trợt. Khi có vảy vàng giống vảy chốc gọi là chàm chốc hóa.
  • Chàm hóa: những bệnh da do bôi thuốc không hợp gây kích thích sẽ biến sang chàm, bên cạnh những thương tổn cũ xuất hiện những mụn nước giống bệnh chàm.

3. Theo căn nguyên:

Chàm thể tạng:

Chàm thể tạng chiếm khoảng 2-3 % dân số trẻ em và 1% dân số người lớn. Xuất độ trên dân số chung ở Hoa Kỳ có thể thay đổi từ 3-5%. Tỷ lệ bệnh tăng lên đặc biệt ở vùng ấm áp và các đợt bùng phát theo mùa, thường vào mùa xuân và mùa thu. Bệnh thường bắt đầu sớm trong năm đầu tiên của cuộc đời và có thể có nhiều đợt trong nhiều năm sau đó. Khoảng 60% bệnh nhân bị chàm thể tạng ở tuổi đầu tiên và 30% ở giữa tuổi lên 1 và lên 5. 

Nguyên nhân chàm thể tạng hiện chưa được biết rõ. Có thể tùy thuộc vào tác dụng hỗ tương của nhiều yếu tố thể tạng, miễn dịch, tâm lý và thời tiết. Bản chất di truyền giữ vai trò quan trọng trong chàm thể tạng. Khoảng 70% người mắc bệnh này có tiền sử cá nhân hoặc gia đình có viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, chàm thể tạng hoặc hen phế quản.

 Chàm vi trùng:

Nguyên nhân thường do sự kích thích từ kháng nguyên của nấm, vi trùng, sang chấn.Đặc điểm chung : thương tổn không đối xứng, giới hạn rõ, ngoài mụn nước còn có sự liên quan đến các ổ nhiễm trùng kề cận như : chốc, nhọt, hăm kẽ, lẹo, chốc mép, viêm quanh móng, nốt đỉa cắn, vết mổ bẩn, các ổ nhiễm trùng da.

Hoặc các nhiễm khuẩn nội tạng như : viêm tai xương chủm, viêm xoang, viêm dạ dày, viêm đại tràng, viêm phần phụ, viêm tử cung, viêm thận… (nếu được điều trị và loại trừ ổ nhiễm khuẩn thì thấy bệnh sẽ giảm hoặc khỏi).

Chàm tiếp xúc:

Chàm tiếp xúc hay viêm da tiếp xúc là hiện tượng ngứa ở thượng bì và bì, thường khởi đầu khu trú, gây ra bởi các chất gây dị ứng hoặc các chất gây kích thích, từ môi trường tiếp xúc với da.

Có 2 dạng viêm da tiếp xúc: là viêm da tiếp xúc dị ứng và viêm da tiếp xúc kích thích . Người ta ước tính tỉ lệ bệnh viêm da tiếp xúc trong dân số chung thay đổi từ 1,5 đến 4,5%. Chàm tiếp xúc là nguyên nhân quan trọng làm mất khả năng nghề nghiệp và sinh hoạt? cá nhân.

Xuất độ lên đến 15% có thể tìm thấy trong các nhóm nguy cơ cao (như thợ làm tóc, thợ xây dựng nhà, nông dân, thợ xe máy ô tô, người làm vệ sinh…). Xuất độ của chàm tiếp xúc đã và đang tăng lên hàng năm. Chàm tiếp xúc chiếm khoảng 20% bệnh nhân đến phòng khám da học. Gần 30% các bệnh nghề nghiệp tại Tây Đức là chàm tiếp xúc, phần lớn (70%) thuộc dạng kích thích.

 Chàm da mỡ (chàm tiết bã):

Là một dạng thông thường của chàm vốn có khuynh hướng xảy ra ở những người có da nhờn và các vùng có hoạt động tiết bã ở mức tối đa như: ở da đầu, sau tai, phần tai ngoài, mặt, thân mình có ở vùng xương ức và giữa hai xương bả vai, có thể ở vùng bẹn, nách và dưới vú.

Xuất độ ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng có thể mắc bệnh (đỉnh cao ở tuổi 18 -40) và ở trẻ con. Ở trẻ dưới 1 tuổi xuất hiện dưới dạng “cứt trâu”. Bệnh thường gặp trên nam giới hơn nữa và gây bệnh khoảng 2-5% dân số. Chó, ngựa, bò cũng có thể bị. Chàm da mỡ thường xấu đi vào mùa đông ở các xứ lạnh.

Đặc điểm lâm sàng :

– Chàm da mỡ ở trẻ con: 

Xuất hiện lúc trẻ còn rất nhỏ, thường khởi phát 6 -8 tuần tuổi. Đầu tiên trên đầu như một phát ban vẩy màu vàng dày (“cứt trâu” hay “vẩy nôi”). Sau đó ở vùng sau tai, cổ, nách, háng, vùng quấn tã, mặt và thân mình. Phát ban thường xuất hiện trước 3 tháng tuổi và có dự hậu rất tốt. Phát ban màu đỏ, có vảy mịn không ngứa, hoặc có rất nhẹ, tự giới hạn, ổn định trong vòng tháng và đáp ứng nhanh với điều trị, hiếm khi tái phá.

– Chàm da mỡ ở người lớn:

Bệnh khởi phát ở người lớn từ từ và thường ở những người da nhờn, có hiện tượng tăng tiết bã và gàu, hình ảnh kinh điển điển hình là vảy mịn nhờn màu trắng, ngả vàng trải rộng trên da đầu có ngứa ít nhiều, hồng ban nhẹ có kèm theo rụng tóc chút ít.

Chàm da mỡ có khuynh hướng trải rộng ra khỏi mí tóc đến mặt tạo “Vòng hoa tiết bã”, có thể đến nếp sau tai. Thương tổn điển hình là các sẩn có vảy mịn. Các đường nứt có thể phát triển trên các hõm giữa tai và da đầu. Khi mặt bị tổn thương viêm mí mắt là thông thường, có phát triển tróc vảy trên hồng ban ở mí mắt, nếp mũi môi và vùng râu, các tổn thương có khuynh hướng phát triển từ các nang lông, nách, bẹn, nếp dưới vú, vùng có lông của ngực và lưng. Viêm tai ngoài mạn tính là biểu hiện duy nhất của viêm da tiết bã.

Ở người lớn chàm da mỡ có thể liên tiếp kéo dài nhiều năm, với nhiều giai đoạn lui bệnh trong những mùa ấm áp. Nhiễm nấm men hoặc vi khuẩn có thể xẩy ra, nhất là tại các vùng kẽ.

Chàm tổ đỉa: 

Chàm dạng tổ đỉa là một viêm da dạng chàm mạn tính, tái phát, trong đó các mụn nước ở sâu, ngứa, xuất hiện ở lòng bàn tay, các ngón tay và lòng bàn chân.Nguyên nhân đặc hiệu chưa tìm ra. Khoảng một nửa bệnh nhân có nền tảng là thể tạng dị ứng. Tổ đỉa có thể là phản ứng của nhiều yếu tố, như ổ nhiễm khuẩn (viêm hạch hạnh nhân mạn tính, viêm phế quản mạn tính…), cơ địa dị ứng, sang chấn tình cảm, nhiễm nấm, các dị ứng nhưng hệ thống và các chất kích thích hay chất dị ứng từ bên ngoài.

Các dị ứng nguyên như: nickel, cobalt, phấn hoa, phomát, bia, rượu vang trắng, gia vị, penicilline và neomycin. Bệnh này thường thấy ở xứ nóng.Tổ đỉa thường gây bệnh ở đàn ông và phụ nữ trên 40 tuổi và chiếm trên 20% các bệnh chàm ở bàn tay.

Ngoài mụn nước, bọng nước nằm sâu trong lòng bàn tay, chân, nếu có nhiễm khuẩn thứ cấp xuất hiện, đau là triệu chứng chủ quan chiếm ưu thế. Mặc dù không biết nguyên nhân trong hầu hết các trường hợp, một nguyên nhân đầu tiên như là nấm hay dị ứng tiếp xúc. Luôn luôn phải tiến hành tìm kiếm xét nghiệm nấm ngay ban đầu để loại trừ nấm lòng bàn tay, nấm lòng bàn chân.

Xem thêm những thông tin khác liên quan đến chàm bội nhiễm:

Hỏi: Bệnh chàm có lây không?

Vài điều cần biết về bệnh chàm bội nhiễm ở trẻ em và trẻ sơ sinh

Chàm bội nhiễm ở người lớn và cách điều trị

Cách trị chàm bội nhiễm và cách phòng bệnh hiệu quả

Bị chàm bội nhiễm khi mang thai – nguyên nhân và cách ngừa

Google+Facebook